Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

Ly Hôn Và Tái Hôn Trong Giáo Hội Công Giáo Đối Với Người Công Giáo

 Ly Hôn Và Tái Hôn Trong Giáo Hội Công Giáo Đối Với Người Công Giáo

Thảo luận về việc ly hôn và tái hôn giữa các Kitô hữu là một vấn đề nhạy cảm. Có rất nhiều nhận định sai lầm về giáo huấn của Giáo Hội trong lĩnh vực này.  Tuy nhiên, chỉ có một số ít gia đình vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sự đau buồn từ sự đổ vỡ trong hôn nhân, hoặc từ những vấn đề được đề cập trong tiến trình xét xử các trường hợp xin tháo gỡ hôn phối với mục đích xem xét tính hiệu lực hoặc thành sự của một cuộc hôn nhân nào trước đó.

rings

Khái Niệm Về Hôn Nhân

Để hiểu rõ về ý nghĩa của việc ban hành Phán Quyết Công Bố Hôn Phối Bất Thành trong Giáo Hội Công Giáo, sẽ thật hữu ích khi nhìn vào khái niệm tốt đẹp đã có từ lâu đời về hôn nhân trong Giáo Hội.  Hôn nhân được xem là một kết ước giữa một người nam và một người nữ để chung tay gắn kết xây dựng cuộc sống.  Hôn nhân là một ơn gọi ấp ủ, nuôi dưỡng những điều tốt đẹp đối với các cặp vợ chồng và theo lẽ tự nhiên sẽ đưa tới sự sinh sôi nảy nở và giáo dục con cái.  Hôn nhân là một bí tích, như điều mà Thánh Phao-lô đã nhắc đến trong Tân Ước (Eph. 5).

Theo đó, một số những nguyên tố tất yếu bắt buộc phải hiện diện để tạo thành bí tích hôn phối.  Điều đầu tiên đó là “Thể thức Giáo Luật” về việc kết hôn: một người Công Giáo theo lẽ thường bắt buộc phải kết hôn trong một nhà thờ Công Giáo và lễ cưới phải được cử hành trước một linh mục hoặc phó tế.  Các yêu cầu về Thể thức Giáo Luật trong việc kết hôn chỉ áp dụng đối với người phối ngẫu theo đạo Công Giáo, do đó, chúng tôi vẫn sẽ công nhận việc kết hôn giữa hai người ngoại đạo, mặc dù họ đã không tổ chức hôn lễ trong nhà thờ hay cả khi hôn lễ của họ đã được tổ chức theo một dịch vụ tôn giáo khác.

Tuy nhiên, việc tuân thủ thể thức giáo luật về việc kết hôn không phải là tất cả những gì cần thiết để một bí tích hôn phối thành sự hoặc hợp lệ có thể xảy ra.  Hơn thế, theo quy định của Giáo Hội về hôn phối, đôi vợ chồng bắt buộc phải được tự do và có chủ ý quyết định tiến tới hôn nhân.   Đó chính là “Sự ưng thuận kết hôn.” Bày tỏ ý định ưng thuận tại thời điểm kết hôn là nghi lễ cốt yếu để sự ưng thuận kết hôn trở nên có hiệu lực, để thiết lập một mối tương giao không thể tách rời giữa người chồng và người vợ, và đó cũng chính là bí tích hôn phối.  Đôi vợ chồng phải hiểu rõ thế nào là hôn nhân và họ bắt buộc phải có ý hướng cuộc hôn nhân của họ trở thành một kết ước vợ chồng cho đến suốt cuộc đời, để sinh hoa kết trái và sinh sản con cái.  Họ phải có ý định trung tín cũng như đối xử tốt lẫn nhau.  Ngoài ra, họ phải có đủ năng lực về thể chất cũng như tâm lý để có thể theo đuổi những dự định này.

Khi tất cả những nhân tố trên được gộp lại với nhau, một bí tích hợp nhất và bất khả phân ly được tạo thành bởi tay Thiên Chúa.  Nếu người chồng hoặc người vợ là người Công Giáo và kết hôn đúng theo Thể Thức Giáo Luật, và sự ưng thuận kết hôn đã được tỏ bày trong lời thề hứa hôn nhân, thì chúng tôi xem đó là một giao ước hôn phối bền vững, lâu dài, không thể bị hủy bỏ, kể cả khi chính quyền dân sự đã không còn công nhận sự tồn tại của hôn phối ấy thông qua việc ly hôn dân sự.

Khi hai Kitô hữu kết hôn theo cách trên, chúng tôi tin rằng Thiên Chúa đã đã làm cả hai nên một trong bí tích hôn phối (cf. Mt. 19:5).  Bởi vì Chúa Giêsu đã dạy về sự bất khả phân ly của hôn nhân rằng – “Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt. 19:6) – chúng tôi tin rằng không ai có thể phá vỡ mối dây liên kết mà Thiên Chúa đã dựng nên, hoặc chính là giao ước bí tích giữa người chồng và người vợ.

Vậy, Phán Quyết Công Bố Hôn Phối Bất Thành Là Gì?

Có thể tiến tới một cuộc hôn nhân thứ hai hay không?  Nếu một người phối ngẫu là người Công Giáo nhưng không kết hôn theo Thể Thức Giáo Luật, thì một tiến trình xét xử đơn giản sẽ được áp dụng nhằm mục đích đạt được Phán Quyết Công Bố Hôn Phối Bất Thành, bởi vì Thiếu Thể thức Giáo Luật.  Nhưng nếu Thể thức Giáo Luật đã được tuân thủ, thì sẽ áp dụng tiến trình dành cho Trường Hợp Chính Thức.

Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng đâu là Trường Hợp Thiếu Thể Thức Giáo Luật và đâu thuộc Trường Hợp Chính Thức: Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành không phải là “Ly Dị Công Giáo.”  Giáo Hội không có bất kỳ quyền hạn nào để chia rẽ những ai đã được hợp nhất bởi tay Thiên Chúa.  Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành chỉ nói lên rằng kết ước vĩnh cửu của bí tích hôn phối đã chưa bao giờ hiện hữu ngay từ thuở ban đầu của cuộc hôn nhân.   Nếu điều này đã được Giáo Hội xác định, thì cả hai người phối ngẫu sẽ được tự do kết hôn một lần nữa.

Phải hiểu rõ rằng, Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến sự hợp pháp của con cái trong cuộc hôn nhân trước đây, cũng như nó không bao hàm các bổn phận tất yếu và nghĩa vụ dân sự khác như sự chu cấp và nuôi dưỡng con cái.  Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành của Giáo Hội không có hàm ý rằng hôn phối này chưa bao giờ tồn tại, nhưng điều này chỉ có ý nghĩa rằng hôn phối ấy đã không có những đặc tính của một bí tích.  Giáo Hội không tìm cách gán trách nhiệm cho bất kỳ ai về sự tan vỡ hôn nhân.

Việc Ly Dị Có Ảnh Hưởng Tới Tình Trạng Của Tôi Trong Giáo Hội Công Giáo Không?

Xin vui lòng ghi nhớ rằng ly hôn không có bất kỳ ảnh hưởng hay trở ngại nào đối với sự tham dự của quý vị trong Giáo Hội Công Giáo. Nếu quý vị đã ly hôn và đã tái hôn mà không có Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành (và người phối ngẫu trước vẫn còn đang sống) thì đây mới nảy sinh vấn đề.  Tương tự như vậy, nếu người phối ngẫu của quý vị đã kết hôn trước mà chưa nhận được Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành thì đây cũng là một vấn đề.  Trong những trường hợp như vậy, quý vị sẽ không thể tham dự vào các phép bí tích bao gồm việc lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa.  Chúng tôi trân trọng tất cả mọi cuộc hôn nhân. Do đó, tất cả những cuộc hôn nhân trước đây đều phải được xem xét, bởi vì mỗi một cuộc hôn nhân đều được xem là có hiệu lực hoặc thành sự với một cam kết vĩnh cửu và tồn tại đến suốt cuộc đời.  Trong những trường hợp như vậy, không một ai có thể tự do kết hôn mà không có sự hiện hữu của bất kỳ tội trọng nào.

Nếu quý vị hoặc người phối ngẫu hiện tại của quý vị đã ly dị, hoặc tái hôn bên ngoài Giáo Hội Công Giáo, thì xin vui lòng lưu ý đến việc tìm kiếm sự hòa giải thông qua tiến trình xét xử để đạt được Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành, điều này có thể đem quý vị trở lại cùng thông phần trọn vẹn với Giáo Hội trong đời sống bí tích.

Kể từ ngày 08 tháng 12 năm 2015, các trường hợp xin tháo gỡ hôn phối được đệ trình lên Tòa án Hôn phối Tổng Giáo Phận Atlanta sẽ không còn tốn phí.

Tôi Có Thể Bắt Đầu Tiến Trình Này Bằng Cách Nào?

Việc đầu tiên, quý vị nên tham khảo các vị Linh Mục, Phó Tế hay Người Bảo Trợ Đệ Đơn tại giáo xứ của quý vị. Người này sẽ giúp quý vị định rõ trường hợp xin tháo gỡ hôn phối nào cần được đệ trình lên Tòa án.  Để bắt đầu Trường hợp Chính thức, quý vị sẽ phải hoàn thành một bản khai sơ khởi hỏi về quá khứ của cuộc hôn nhân trước đây của quý vị.  Kế đó, quý vị sẽ gặp Người Bảo Trợ Đệ Đơn, có thể là linh mục, phó tế, hoặc giáo dân đã được huấn luyện, người này sẽ giải đáp những thắc mắc của quý vị, giải thích rõ hơn về tiến trình cũng như giúp quý vị hoàn thành các giấy tờ thủ tục mở đầu.  Khi hồ sơ của quý vị đã được hoàn thành đầy đủ, Người Bảo Trợ Đệ Đơn theo đó sẽ chuyển đơn thỉnh cầu xin tháo gỡ hôn phối đã được công chứng của quý vị, cùng với những tài liệu, chứng từ được yêu cầu về mặt pháp lý cũng như thuộc Giáo Hội lên Tòa án Hôn phối Atlanta.

Một Số Nhận Xét

Tiến trình xin tháo gỡ hôn phối có thể mất nhiều thời gian.  Bởi vì một số lượng lớn trường hợp xin tháo gỡ hôn phối còn đang trong giai đoạn chờ đợi sự xét xử của Tòa án, cũng như việc mỗi một trường hợp xin tháo gỡ hôn phối đều phải được xét xử thông qua một tiến trình vô cùng chi tiết và kỹ lưỡng, do đó, sẽ không bao giờ đảm bảo một ngày cụ thể để đưa ra phán quyết, thậm chí cũng không thể hứa hẹn một quyết định thuận lợi nào.  Chính vì điều đó, nếu quý vị đang thỉnh cầu Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành cùng với ý định tái hôn trong tương lai, xin vui lòng biết rằng bất kỳ vị linh mục hay phó tế nào cũng không được phép, cũng như không thể hỗ trợ quý vị trong việc chuẩn bị cho hôn lễ, thậm chí chỉ là thiết lập ngày cưới linh hoạt cho đám cưới sắp tới, cho tới khi quý vị có phán quyết chấp thuận cuối cùng, bằng văn bản, từ Tòa án Hôn phối.

Trong tiến trình xét xử các trường hợp xin tháo gỡ hôn phối, có thể gợi lên những ký ức đau buồn trong quá khứ, nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì hầu hết tất cả mọi người đều tìm thấy được một nguồn sức mạnh mới, sự hiểu biết và sự hòa giải thông qua cuộc trò chuyện với người đại diện Giáo Hội về cuộc hôn nhân trước đây của họ.  Như một nguyên đơn gần đây đã nói với chúng tôi rằng, “Đó là một cách chữa lành tổn thương tuyệt vời dành cho tôi.”  Một nguyên đơn khác cũng đã nói rằng: “Bây giờ tôi hiểu rõ bản thân và cuộc hôn nhân của mình!”  Tất cả những ai liên quan tới việc hỗ trợ quý vị trong tiến trình xin tháo gỡ hôn phối này đều xem công việc của họ như thừa tác viên tông đồ phục vụ.

Chúng tôi rất hiểu và cảm kích sự nỗ lực của bất kỳ ai đang cố gắng tìm kiếm Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành.  Tiến trình này có thể được xem như một sự trở ngại đối với sự thông phần đầy đủ của quý vị trong Giáo Hội Công Giáo.  Tuy nhiên, đó cũng có thể được xem như sự trưởng thành trong tâm hồn của mỗi cá nhân hướng theo niềm hân hoan tham cùng tham dự với Thiên Chúa.  Xin đừng để bất kỳ sự vướng mắc hay nghi ngờ nào khiến quý vị không thể tiếp cận được Tòa án Hôn phối về vấn đề liên quan đến cuộc hôn nhân trước đây.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý vị khi tìm đến Ngài và những ước nguyện của quý vị được thực thi theo ý Ngài.  Nếu quý vị đã ly hôn, thì xin ơn Chúa xoa dịu những nỗi đau đớn trong cuộc sống của quý vị thông qua Giáo Hội.  Nếu quý vị quyết định thỉnh cầu Sắc Lệnh Công Bố Hôn Phối Bất Thành, thì đây có thể sẽ là nguồn mạch giúp quý vị chữa lành mọi vết thương.

 VĂN HÓA & NIỀM TIN: BÙA NGẢI VÀ PHÙ THUẬT VIỆT NAM



Cuốn Phù Thuật Việt Nam mới xuất bản của bác sĩ Lê Văn Lân mang một tựa đề thật thu hút.

Đề tài này tự nhiên hấp dẫn bởi lẽ nhiều người đã từng nghe đồn đại từ lâu nên cũng tò mò cần biết xem nó là cái gì. Có phải là chuyện gợi ra những mê tín dị đoan hoang mang hay là một vấn đề cần được nghiên cứu nghiêm túc? Nào là những lá bùa hộ mệnh, bùa làm ăn do tin tưởng cầu khẩn ơn trên, nhưng lại được các thầy pháp phù thủy léo lái phù phép để điều khiển âm binh nhằm làm hại người ta qua tà thuật như thiên linh cái, hàn nàm… nào là bùa Ba tư, bùa Ai cập, bùa Mường, bùa Miên, bùa Chàm, Bùa Thái… Quả là mình cũng đang bước vào một khu rừng rậm với đầy khám phá mới lạ mà cũng đầy bất trắc do rắn rết và cạm bẫy giăng mắc!

Soạn giả là một bác sĩ y khoa, là một nhà biên khảo về văn hóa với nhiều bài viết và một số sách đã xuất bản như cuốn “Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng Của Hoàng Đế Việt Nam”, thì chắc chắn không phải là một pháp sư hay thầy bùa tuyên truyền về dị đoan trong sự trị bệnh. Và chính soạn giả đã nói rõ trong sách:

“Trong đường hướng đi vào sự khảo sát bùa chú Việt Nam, chúng ta thiết tưởng phải gột bỏ định kiến coi bùa chú là ‘dị đoan’ mà chúng ta nên có thái độ mở rộng tâm trí mà nghĩ rằng đó là những vấn đề thuộc phần tiềm thức hay linh thể trong lãnh vực của một nền văn hóa cổ xưa, và đường hướng thích nghi nhất là phải điều tra, khảo sát và phân tích cái nền tảng tín ngưỡng của dân Việt Nam ta qua giòng lịch sử triết lý và văn hóa” (trang 34).

Dù đã bày tỏ “chỉ khiêm cung ước mong đây là một bước khảo sát sơ khởi” cần được nhiều người góp ý, soạn giả đã đưa người đọc vào một thế giới u linh với một cái nhìn rộng rãi mang tính nghiên cứu hiểu biết rộng rãi.

Giáo sư Đàm Trung Pháp đã nhận xét: “Đây là một tiêu chuẩn “nặng ký” lắm đối với giáo giới đại học Mỹ khi lựa chọn tài liệu giảng huấn cho sinh viên: Cuốn sách cung cấp cho người đọc nhiều cơ hội phải vỗ đùi mà thốt lên “à ra thế!” mỗi khi đọc được một điều gì mới lạ đáng kể và đáng nhớ (người Mỹ gọi những giây phút hứng thú này là “the aha moments”). Nổi bật trong tiêu chuẩn này là biệt tài phân tích, so sánh, và tổng hợp các ý niệm siêu hình giữa những văn hóa Việt, Trung hoa, Ấn độ, Chàm và Miên, để người đọc có một cái nhìn tổng thể khả tín. Đáng quý thay lời nhận định khiêm cung của tác giả khi ông thấy các công trình đồ sộ của người Trung hoa, Nhật bản, và Tây phương nghiên cứu về pho kinh điển của Đạo giáo: ‘Nhìn lại công trình khảo sát của thiên hạ, chúng ta mới quả thấy mình như chim chích lạc vô rừng sâu’” (trang 19).

BÙA CHÚ, MỘT CHUYỆN CỦA MỌI NƠI VÀ MỌI THỜI ĐẠI

Soạn gỉả đặc biệt giới thiệu một số sách tham khảo trong đó có hai cuốn mang tên “Connaissance du Việt-Nam” của Pierre Huard và Maurice Durand (1954) và “A Dictionary of Chinese Symbols: Hidden Symbols in Chinese Life and Thought” của Wolfram Eberhard (1977). Nhiều người đã bỏ công nghiên cứu tìm hiểu tận gốc vấn đề. Thế giới bùa chú không còn là một “cấm địa” nữa, vì ngay cả các trường đại học lừng danh nhất nước Mỹ mới đây đã cấp phát văn bằng tiến sĩ cho một số sinh viên viết luận án về bùa chú và các đề tài tương tự. Chẳng hạn, sinh viên Bradford Verter đã bảo vệ thành công luận án viết về sự xuất hiện cận đại của “bí đạo” hoặc niềm tin vào huyền bí (occultism), và được Đại Học Princeton cấp văn bằng tiến sĩ về lịch sử tôn giáo năm 1997. Và năm 2000 Đại Học Harvard đã cấp văn bằng tiến sĩ về nhân chủng học cho sinh viên Kori Pekala sau khi người này bảo vệ thành công luận án viết về những phương cách để đánh bại quỷ thần (gồm quỷ thuật, bùa chú, trù ểm, trừ tà) được ghi trong sách kinh Avesta của một tôn giáo cổ (Zoroastrianism) tại xứ Ba Tư.  Vì thế cuốn Phù Thuật Việt Nam không phải là trường hợp ngoại lệ, vì là chuyện nhiều người đang đi vào để tìm hiểu để giải mã, tức là “bật mí” những gì vẫn cho là bí mật!

Ngay ở thành phố tôi sinh sống là New Orleans bang Louisiana cũng đầy những sinh hoạt của thế giới u linh bong tối này. Từ những nghi lễ Voodoo nhảy múa gọi hồn kiểu Marie Laveau để phù hộ tình duyên may mắn, đến những người ngồi xem chỉ tay tướng số (palm reader) ở Jackson Square trước nhà thờ chính tòa St Louis bên cạnh quán Café du Monde nổi tiếng với điệu nhạc Jazz rề rà khoáng đạt trong khu vực Pháp (French Quarter).

Phù Thuật Việt Nam như một giới thiệu một lọat hình sưu tầm về bùa chú từ nhiều nơi trên thế giới, có tới 40 hình lá bùa thông dụng. Như những bùa trị bệnh, bùa bỏ thuốc lá, bùa trị trẻ kinh phong, bùa giúp làm ăn phát đạt, bùa trừ ma quái, bùa Lỗ Ban làm nhà, bùa yêu… Rồi đến những bí ẩn ma quái của pháp sư như ”Thái Thượng Lão-quân với cái lò tám góc luyện-đơn, tiền-thân của những phòng thí-nghiệm hóa-học và nguyên-tử của đời nay. Và là người Việt Nam thì phải hiểu rằng, khi nhà Nguyên gốc Mông-cổ đánh nước ta thì có tên phù-thủy Phạm Nhan được phái sang để dọa nạt và lung lạc nhân-tâm mà gài cả một hệ-thống do-thám và phản gián qua những người mê tín; thanh kiếm thần của Hưng Đạo Đại-vương Trần Quốc Tuấn cũng là một sáng-tạo của các pháp-sư bản-quốc để lấy lại lòng tin của các đàn bà con gái, là một lực-lượng lớn của nước. Thanh kiếm sắc bén của Đức Trần Hưng Đạo đã chặt bay cái đầu xương thịt của tên phù-thủy Mông-cổ…”

TỪ NHU CẦU PHÙ THUẬT TÂM LINH

Hình ảnh một đứa bé nằm trong lòng mẹ đang sung sướng nhìn mẹ nói lên cái nhu cầu tâm linh căn bản con người. Nó muốn nối sức sống và tình thương vào lòng mẹ và từ lòng mẹ. Đó là Đạo điển hình nhất, khi hiểu đạo là đường, là cuống nhau, là cái bè, là phương cách, là phù thuật theo nghĩa uyên nguyên nhất. Nó muốn tìm phủ trợ ấp ủ từ lòng mẹ, từ nguồn lực sống phát sinh ra nó. Nhà nhân chủng Debleu gọi đó là nhiệm hiệp (mystic participation). Và bác sĩ Herbert Benson trong những cuốn sách nổi tiếng như Sự Đáp Ứng của Thư Giãn (The Relaxation Response), Timeless Healing hay Your Maximum Mind đều khẳng định như một định luật: “Cơ thể con người là một bản sao di truyền tạo ra để tin vào một sự Tuyệt Đối Vô Biên.” (Phù Thuật Việt Nam trang 30). Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì con người đã được cài đặt phần mềm (software) có sẵn mã số (code) thành một qui trình trong đó cái tiểu ngã nhỏ bé to vo phải vươn tới cái đại ngã vô biên. Văn hóa người Việt mình thì bảo cái vuông phải đi với cái tròn thì mới tròn đầy toàn mãn được. Chứ lo tìm cách duy vật thì chỉ phá hủy nhân bản mà thôi, con người sẽ trở thành thui chột nằm lì trong bản năng động vật tính không vươn được tới đại ngã là con người đích thức của mình.

Mà đã là con người thì ai mà chả cảm thấy sự giới hạn của chính mình, về bệnh tật, về những chuyện xảy ra bất thường ngoài tầm tay của mình! Ngay cả thời khoa học cao độ hôm nay cũng phải bó tay trước những chuyện như vậy. Mà xã hội nào càng duy vật và vô thần cao độ, thì người ta lại có khuynh hướng tìm về bùa ngải, hay ngược lại, khi con người xuống dốc đến cùng độ thì cũng là lúc được xoay hướng để vươn lên tìm tới nguồn lực từ trên cao phù trợ.

Niềm tin thành đạo sống căn bản của người Việt mình có thể tóm gọn trong hai khía cạnh:

  1. Đạo thờ Trời.

Trên đỉnh Núi Tổ Đền Hùng là Kính Thiên Lĩnh Điện, tức điện thờ Trời. Chứ mộ tổ nằm ở phía bên phải xuống thấp một chút. Ở miến Nam nhiều người để Bàn Thiên ở trước nhà. Có thể nói đạo thờ Trời là căn bản của tín ngưỡng Việt Nam có trước khi các tôn giáo du nhập vào. Nên sau này khi đạo Phật đã thịnh thì người bình dân vẫn cầu khẩn qua ca dao: “Lâm râm khấn với Phật Trời.” “Trời cho hơn lo làm,” tức luôn cần ơn trời phù. “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.” Đây mới là Phù Thuật theo đúng nghĩa.

Niềm tin của người Việt vào ơn trời được thể hiện rõ nét trong cuộc sống đời thường, chứ không phải là để lý luận hay giữ trên đầu. Vào những dịp như những ngày đầu năm, người ta trẩy hội hái lộc để nhận lộc trời, và chúc nhau những lời chúc may mắn do trời ban. Đó mới là lời chú đích thực mang uy lực từ trời.

  1. Đạo Ông Bà, tức thờ cúng tổ tiên.

    Hồn của người qua đời vẫn sống gần gũi để phù trợ con cái dòng tộc, đất nước. Vì thế ngoài việc cúng giỗ tổ tiên trong dòng tộc, người Việt rất tôn kính các anh hung dân tộc đã hiển linh như Thánh Tản, Thánh Gióng, Thánh Trần…

ĐẾN PHÙ PHÉP TÀ MA

Ngay từ nhỏ tôi đã từng nghe nói về chuyện thư ếm. Một vài người quen biết bị bệnh ung thư lại cũng phải vái tứ phương đi rước thầy pháp về. Thầy liền phán là do bị thư ếm, rồi qua nhiều ngày và thủ tục tốn tiền, thầy lấy ra được một đống đinh và lưỡi dao từ trong bụng! Nghe thế tôi liền kết luận là trò ảo thuật dùng mánh lới để làm tiền. Vì sau đó bệnh nhân vẫn chết vì bệnh ung thư, mà thầy thì đã biến mất!

Nhưng khi đọc sách “An Exorcist Tells His Story” (Nhà Trừ Quỷ Kể Truyện) của linh mục Gabriele Amorth, một nhà trừ quỉ chính của Roma, thì tôi giật mình thấy chuyện đó có thật. Nghĩa là về chuyện này có loại bị thư ếm thật chứ không phải loại mánh lới làm tiền với những người bị bệnh ung thư trên đây.

Mới đây tôi được xem một video do một linh mục làm lễ nghi trừ tà ở vùng Xuân Lộc. Nạn nhân là một người đàn bà bị thư ếm đang quằn quại vì đau đớn, ngơ ngác như người mất hồn, và khi linh mục này rảy nước thánh và cầu nguyện trừ tà thì chị ta mửa ra một đống đinh và sau đó thì được giải thoát.

Cuốn “Nhà Trừ Quỷ Kể Truyện” (bản dịch từ 179 đến 215) nói rất chi tiết về chuyện bùa ngải và thư ếm của ma thuật khi tác giả trải qua những kinh nghiệm có thực rất rùng rợn. Xin đuợc trở lại chi tiết đề tài này trong những lần khác.

Thì ra quỉ satan đã thu góp những hồn người chết trong tội lỗi mà chưa được siêu thoát trở thành những tà ma, thành đoàn âm binh do chúng sai khiến đi làm hại người ta, tung hoành mở mang nước của bóng tối do chúng điều khiển. Những thầy pháp trong đuờng dây ma thuật tưởng rằng đã dung phù phép để điều khiển được tà ma đi làm hại người khác thì chính họ đã bị quỉ satan nắm cổ điều khiển rồi, vì họ đã liều mạng đi làm hợp đồng với ma quỉ (in pact with satan) qua những nghi lễ thờ quỉ và những ma thuật đen!

TIN VUI GỬI NGƯỜI CẦN ĐƯỢC GỠ BÙA (Chúa nhật 15b)

Quả là một dấu thời đại khi mà Đạo Trời và Đạo Ông Bà của người Việt mình mạnh như vậy, mà bây giờ thay vì tìm phù trợ nơi Chúa Trời, nơi hồn tổ tiên tốt lành, nơi các thiên thần và các thánh cùng thông công, thì rất nhiều người lại đi tìm phù trợ nơi ma quỉ qua các tà thuật. Khi bị chứng bệnh lạ, thay vì đi đến nhà thờ cầu nguyện thì lại đi tin vào mấy ông thầy pháp. Tại sao vậy?

Trong cuốn “Người Trừ Quỷ Kể Truyện” Lm. Gabriele Amorth nói tới thị kiến của ĐGH Lêô 13 vào năm 1886. “Cha Pechenino viết: Một buổi sáng khi ĐGH Lêô 13 dâng thánh lễ như thường lệ, vào lúc ngài đang cám ơn rước lễ, đột nhiên chúng tôi thấy ngài ngẩng đầu lên nhìn chăm chú vào một cái gì đó ở trên phía đầu chỗ chủ tế ngồi. Ngài nhìn một cách hết sức chăm chú và không chớp mắt. Thái độ của ngài hết sức kinh sợ, sắc diện cũng thay đổ nhanh chóng. Có một cái gì đó bất thường đang xảy đến cho ngài. Cuối cùng dường như ngài tỉnh lại, một cách nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ, ngài chống tay đứng dậy đi về phòng riêng. Người trợ tá của ngài hết sức lo lắng ân cần hỏi ngài: ‘Thưa Cha, Cha không được khoẻ? Cha có cần gì không?’ Ngài trả lời, ‘không, không cần gì hết.’ Khoảng nửa giờ sau, ngài gọi thư ký thánh bộ phụng tự đến, trao cho một tờ giấy và truyền phải in ra gửi cho các giám mục khắp thế giới. Giấy gì vậy? Đó là bản kinh chúng ta vẫn đọc cuối mỗi thánh lễ. Kinh cầu Đức Mẹ và lời tha thiết xin tổng lãnh thiên thần Micae cầu xin Thiên Chúa bắt satan giam vào hỏa ngục.”

ĐC Rinaldo Angeli thư ký riêng của Đức Lêô 13 kể lại: “Thực sự ngài đã nhìn thấy qua một thị kiến, ma quỉ đang tụ tập trên kinh thành Roma.” (trang 50-51)

Người ta lấy làm lạ là chỉ thời Chúa Giêsu giảng đạo thì quỉ mới xuất hiện nhiều, rồi qua nhiều thế kỷ ít nói tới. Nhưng từ thế kỷ vừa qua cũng như ngày nay thì ma quỉ lại lộng hành ra mặt! Có thể đây là những điềm báo khi Chúa ra tay thì ma quỉ phải đỡ và gỡ gạc.

“Ma quỉ giận điên lên vì biết rằng nó chỉ còn một ít thời gian.” (Khải Huyền 12:12)

Một điều chắc chắn là Chúa “đã thắng thế gian” (Ga 16:33), và “thủ lãnh thế gian (ma quỉ) đã bị xét xử rồi.” (Ga 16:11)

Và nay Chúa trao quyền năng đó cho các môn đệ của ngài:

“Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế.”  “Các ông trừ được nhiều quỉ và xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.” Mc 6:6, 13)

Vì thế mà cha Gabriele Amorth đã cảnh giác: “Ma thuật bao gồm một phạm vi rộng lớn các chủ đề. Các sách viết về chủ đề này nhiều đến nỗi đầy ắp cả một thư viện. Ma thuật được thực hành suốt dọc lịch sử loài người và bởi mọi nền văn minh. Ngày nay nhiều người vẫn còn sa vào nanh vuốt của nó. Nhiều linh mục đánh giá quá thấp về sự nguy hiểm của ma thuật. Trong khi họ vẫn nghiêm chỉnh tin vào quyền năng cứu độ của Chúa Giêsu, Đấng đã chết để giải phóng chúng ta khỏi xiềng xích của satan, thì họ lại quên rằng Chúa không bao giờ bảo chúng ta đánh giá thấp về quyền lực của ma quỷ; Ngài không bao giờ bảo chúng ta coi thường ma quỷ hoặc ngưng chiến với nó. Thay vào đó, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta quyền năng trừ quỷ và khuyên chúng ta không ngừng chiến đấu chống lại nó là kẻ chuyên “giần sàng” chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã trải qua những cơn cám dỗ bởi satan và tỏ cho chúng ta thấy rõ ràng chúng ta không thể làm tôi hai chủ.” (trang 201)

“Chúng ta đã có đặc ân của Chúa Thánh Thần, phép Thánh Thể, Lời Thiên Chúa, sức mạnh danh Chúa Giêsu, sự che chở của Đức Trinh Nữ diễm phúc, sự cầu bầu của các thiên thần và các thánh; thế mà còn đi sợ một kẻ đã bại trận thì chẳng phải là đần độn lắm sao?” (trang 279).

“Hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa.” (Eph 6:17)

“Anh em là những người mạnh mẽ; Lời Thiên Chúa ở lại trong anh em, và anh em đã thắng ác thần.” (1Ga 3:8)

 

KINH GIẢI THOÁT MỌI SỰ DỮ (Từ cuốn Người Trừ Quỷ Kể Truyện)

Lạy Thần Khí của Thiên Chúa chúng con, là Cha và Con và Thánh Thần, Ba Ngôi Cực Thánh, Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, các thiên thần, các tổng thần và các thánh trên thiên đàng, xin ngự xuống trên con.

Lạy Chúa, xin thanh tẩy con,  xin uốn nắn con, xin đổ đầy lòng con bằng chính Chúa và xử dụng con.

Xin đuổi xa khỏi con mọi lực lượng sự dữ, xin phá hủy chúng, chế ngự chúng, để con có thể được mạnh khoẻ mà làm những việc lành.

Xin xua đuổi xa con tất cả các thứ thư ếm, bùa ngải, tà thuật, hành ác, trói buộc, những quấy nhiễu của ma quỉ, tà ám gây độc hại, tội lỗi, ghen tương, phản bội, tị hiềm, những sự đau đớn do ma quỉ về thể lý, tâm lý, tinh thần, thiêng liêng. Xin thiêu đốt tất cả những sự dữ này trong hỏa ngục, để chúng không bao giờ đụng chạm đến con hay bất cứ thụ tạo nào trên khắp thế giới nữa.

Nhờ quyền năng của Thiên Chúa toàn năng, nhân danh Chúa Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc con, qua sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, ta ra lệnh cho tất cả các quyền lực đang quấy nhiễu ta phải lập tức xa khỏi ta, và phải bị đuổi vào lửa hỏa ngục muôn đời, nơi chúng sẽ bị trói buộc bởi các tổng thần Micae, Raphae, Gabrie, các thiên thần bản mệnh, và chúng sẽ bị đạp dập dưới gót chân của Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm. Amen.

Lm. Trần Cao Tường

 Thày bùa ngải lần chuỗi Mân Côi



Câu truyện khó tin mà có thật. Có thày bùa ngải rất cao tay. Y đã dùng mọi phương pháp thư yếm để dụ giỗ nhiều phụ nữ sa vào tay y để thỏa mãn dục tính. Người ta đã tố cáo y với chính quyên, có biện pháp trừng trị hầu tránh 1 taì hoạ.

Nhưng không ai dám đứng ra tố cáo, vì sợ bàn tay thư yểm của y. Vả lại chính quyền cũng lờ đi, sợ đụng chạm đến tôn giáo, dù sao y cũng là 1 thày phù thuỷ có hạng trong vùng. Nhân cơ hội y dùng tà ma, khiến âm binh để chữa bệnh cho 1 thiếu phụ. Chẳng may thiếu phụ này chết, không biết có phải tại ma quỷ, hay là tại bệnh.

Nhưng chính quyền cũng cứ cho là tại y, chữa bệnh mà không có giấy phép hành nghề. Y bị bắt và bị truy tố . Nhân cơ hội này đã có rất nhiều đơn tố cáo y, lợi dụng bùa phép để làm hại nhiều phụ nữ. Thày phù thủy bị cáo trước pháp luật vì nhiều tội danh bất chánh. Kết quả là Toà kêu án chung thân. Y rất lo sợ buồn phiền vì những việc làm bất chính của y.

Vào tù được ít tháng, thì y lâm bệnh nặng. Biết mình sắp chết, cho nên y nói với người bạn tù rằng: Tôi sẽ chết. Và trước khi chết, tôi trối lại cho anh tất cả những gì tôi có trong nhà tù này. Vậy khi nào anh có dịp được gặp gia đình, thí nhờ anh thông báo cho vợ con tôi nên từ bỏ cái nghề mạt rệp của tôi đã làm, vì nó chẳng có ích lợi gì cho ai, nếu không chỉ làm hại người ta.

Hơn nũa, tôi cũng nhân cơ hội này, dám hỏi anh 1 bí quyết: tại sao từ ngày anh vào tù, tôi thấy anh lúc nào cũng vui vẻ hồn nhiên, như không có truyện gì xảy ra. Tương lai, mạng sống sức khỏe, anh coi như pha. Lúc nào cũng tươi cười vui vẻ, còn hát xướng được. Tôi thấy anh lấy dây dài thắt nút từng khúc, và ngồi nghiêm trang lâm râm khấn vái, tay thì đếm từng nút dây. Mặt anh lúc nào cũng tươi vui. Tôi thấy mà thèm, tiếc cho cái thân phận của tôi.

Được cơ hội, anh bạn tù trả lời hết, và giải đáp tất cả mọi vấn đề mà anh phù thuỷ thắc mắc: Sỡ dĩ tôi an tâm là vì tôi là người công giáo. Sống chết đã có số phận. Cuộc sống ở thế gian này chỉ là phù du, nay còn mai mất. Sinh ra ở trên trái đất này, sống ở nhà, hay sống trong tù cũng chỉ là sống trên trái đất mà thôi. Có gì phải quan tâm.

Chúng tôi tin vào quyền năng của Thiên Chúa, và tin vào Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng tôi. Đức Mẹ đã hiện ra nhiều nơi trên trái đất và truyền cho chúng tôi phải năng lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ, thì Đức Mẹ sẽ cứu thoát khỏi tù đầy, được sớm trở vế với gia đình, sống thánh thiện cho đến chết.

Cài dây mà anh thấy tôi thắt nút, đó chính là chuỗi hạt Mân Côi. Ở ngoài người ta làm bằng gỗ, bằng kim khí, óng ánh sáng láng rất đẹp. Còn trong tù thì quy chế không cho đem đồ đạo vào, sợ mình lợi dụng để tự vận. Cho nên tôi đã phải thắt nút dây, để làm tràng chuỗi Mân Côi, và đọc kinh Kính Mừng. Nhờ đó mà tôi đã sống an vui, bình thản.

Nếu đêm nay người ta đem tôi ra pháp trường bắn bỏ cững được. Tôi đã phó dâng tất cả cho Đức Mẹ gìn giữ. Thày phù thuỷ nghe nói rất cảm động, tự nhiên thấy phấn khởi, và muốn nhờ anh bạn dạy đạo, và cũng tập lần chuỗi Mân Côi. Anh cũng bắt chước người bạn tù, lấy dây thắt nút làm chuỗi hạt Mân Côi và học để được lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ. Từ đó anh cảm thấy tươi vui, không còn muốn chết nữa. Anh đã khỏe trở lại, vui vẻ nói truyên hát xướng. Hai đôi bạn càng ngày càng thân thiết trìu mến nhau lạ thường.

Cho đến 1 ngày, đúng là do lời cầu nguyện bằng chuỗi hạt Mân Côi của cả 2 anh tù. Chính phủ có sự thay đổi chính thể, đã tuyên bố khoan hồng cho các tù nhân, kế cả những người tù chung thân, đã ở được hơn 10 năm. Thày phù thuỷ cũng được tha, trở về gia đình cùng với anh bạn.

Cảm nghiệm được lòng thương xót của Chúa và của Đức Mẹ Mân Côi, thày đã bỏ tất cả, bán hết của cải, xin vào dòng tu để chuộc lại những tội lỗi suốt mấy chục năm qua. Thày đã sống thánh thiện 15 năm trong tu viện, lao động cực nhọc, chỉ ăn cơm với muối, và năng lần chuỗi Mân Côi kình Đức Mẹ cho đến chết.

Lời bàn : Câu truyện đưọc kể lại trong tu viện dòng thánh Đominicô. Nhờ gương sáng của 1 chiến sĩ công giáo mà 1 tội nhân, 1 thày phù thuỷ bùa ngải khét tiếng, đã được ơn ăn năn trở lại. Nếu không có vụ bị bắt, bị tù thì làm sao mà 1 thày phù thuỷ có thề được ơn cải tử hoàn sinh như vậy. Gương sáng rất quan trọng, như chúng ta đã biết, chuỗi hạt Mân Côi cuả nhà bác học Andre Ampere có giá trị hơn 1000 bài giảng rất hay và hùng biện.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

 

10 Lời Cầu Nguyện Buổi Sáng Để Cầu Nguyện Hàng Ngày













Cầu nguyện buổi sáng là một cách tuyệt vời để tập trung thời gian và sự chú ý của bạn vào việc tìm kiếm hoạch định của Đức Chúa Trời cho một ngày trước mắt. Bất kể bạn cần sự khích lệ, sự bình an, sức lực hay nghỉ ngơi, Chúa có thể gặp bạn một cách rất thật và hiện hữu khi bạn đến trước mặt Ngài với một tấm lòng khiêm nhường. Hãy tìm kiếm Sự Hiện Diện của Đức Chúa Trời mỗi buổi sáng trước khi hàng loạt những việc cần phải làm ở phía trước khiến mọi sức lực và sự tập trung của bạn bị kéo đi mất.

10 lời cầu nguyện ích lợi buổi sáng để bắt đầu một ngày của bạn:

1. “Thưa Chúa, nguyện chẳng một điều gì ngăn cách được con khỏi Ngài trong ngày hôm nay. Xin hãy dạy con làm thế nào để nghe theo ý muốn của Ngài để mỗi bước sẽ dẫn con đến gần Ngài hơn. Xin giúp con bước đi theo Lời Chúa và không theo cảm xúc riêng của mình. Giúp con giữ lòng mình trong sạch và trọn vẹn. Bảo vệ con khỏi những suy nghĩ, lời nói, hành động bất cẩn của mình và giữ con khỏi bị phân tâm bởi ý riêng, những khao khát và ý tưởng riêng để khiến mọi chuyện theo ý mình. Xin giúp con tiếp nhận mọi điều sẽ tới với con như một cơ hội Chúa ban… hơn là một vấn đề bất tiện cá nhân. Và cuối cùng, giúp con được nghỉ ngơi trong lẽ thật vì lời Chúa trong Thi-thiên 86:13 nói rằng, ‘sự nhân từ Chúa đối cùng con rất lớn’.  Chúa đã nhìn thấy trước khi con vấp ngã hoặc rối bời.

Chính thì giờ này, con giấu mình vào tiếng gọi êm dịu của Tình yêu tuyệt đối Ngài dành cho con tận sâu trong lòng con. Và con nhận ra rằng tình yêu của Ngài đối với con không phụ thuộc vào những gì con làm. Ngài yêu con bất kể sự xấu xí, méo mó của con và điều đó quá tuyệt vời với con. Và điều giá trị nhất là Đấng Cứu Chuộc của toàn nhân loại dành thì giờ trò chuyện cùng con trong buổi sáng hôm nay. Chúa ơi, xin giúp con luôn luôn ghi nhớ rằng được ngồi trò chuyện với Chúa như thế này là một món quà tuyệt vời. Amen!

2. “Thưa Chúa, tạ ơn Ngài vì một ngày mới lại đến. Xin Cha quan phòng gia đình và bạn bè của con. Cảm ơn Ngài. Amen!

Tôi hằng để Đức Giê-hô-va đứng trước mặt tôi; tôi chẳng hề bị rúng động, vì Ngài ở bên hữu tôi.’ Thi-thiên 16:8”

3. “Thưa cha, con không biết ai hay điều gì sẽ đến trong ngày hôm nay của con, nhưng con biết chắc chắn rằng Chúa là vầng đá và đồn lũy của con.  Ngài là cái khiên và pháo đài kiên cố của con. Xin giúp con ghìm chặt mình vào Chúa ngày hôm nay và dạy con làm thế nào để đứng vững trong Ngài và lựa chọn theo ý muốn của Ngài. Giúp con bước đi theo Lẽ thật của Chúa và không theo cảm xúc của con. Giúp con tiếp nhận mọi điều đến với mình như một cơ hội để hướng những người khác đến Ngài.

Tạ ơn Cha vì Ngài đã yêu con và không gì có thể lấy đi Tình yêu của Ngài khỏi con. Chúa ơi, kể cả ngày hôm nay con thất bại và vấp ngã, tiếng thì thầm êm dịu của Tình yêu vô điều kiện của Chúa vẫn ở trong tâm hồn con và nhắc con rằng sự thương xót của Ngài luôn mới mỗi sáng. Điều đó thực sự khiến con kinh ngạc thưa Chúa. Tạ ơn Ngài vì đã gặp gỡ con ngày hôm nay. Chúa có thể đánh thức con một lần nữa vào sáng mai bằng tiếng gọi Tình Yêu ngọt ngào của Ngài không? Con rất nóng lòng được gặp gỡ Ngài.

 

Chúa Giêsu chịu cám dỗ                 



 Rắn là vật tinh ranh hơn mọi dã thú (3,1a). Rắn là loài có hình thù và cách di chuyển đặc biệt; nó khôn khéo và nguy hiểm làm người ta sợ và ghê tởm. Nhiều tôn giáo (cụ thể tại Canaan) coi rắn như thần và nó có vai trò trong việc ma thuật và biểu tượng sự sinh sản phong phú. Ở đây, rắn biểu tượng cho sự độc ác và khôn khéo, tìm cách phá hoại hạnh phúc con người bằng cách phá đổ mối thân thiện giữa con người với Thiên Chúa. Sách Khôn Ngoan ví rắn là quỷ dữ (Satan): “Chính vì quỷ dữ ganh tỵ, mà cái chết xâm nhập thế gian” (St 2,24); Khải Huyền gọi là Satan, ma quỷ (Kh 12,9); (1Ga 3,8).

Rắn quỷ quyệt đưa ra một câu hỏi bâng quơ: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” (3,1b). Quả là một câu hỏi khôn khéo và nguy hiểm vì có hai nghĩa:

 * Không được ăn tất cả, chỉ một số nào đó thôi.
 * Không được ăn cây nào cả.

Rõ ràng, lời này có ý xuyên tạc hoàn toàn ý Thiên Chúa, và như thế có tác dụng lôi kéo người nữ vào câu chuyện.

Người nữ phản kháng : Quả cây trong vườn chúng tôi được ănNhưng về quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán : các ngươi không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết (3,2). Việc đầu tiên là người nữ thấy cần phải đính chính để bênh vực Chúa, và nói quá đi (không được đụng tới) như thể xác định một lệnh truyền nghiêm nhặt để giữ mình.

Con rắn ngọt ngào dụ dỗ : Chẳng chết chóc gì đâu ! quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như những Thiên Chúa biết cả tốt xấu. (3,4-5). Hết sức khôn khéo, rắn không xúi giục ăn trái cấm, nhưng tạo nên trong lòng con người sự nghi ngờ Lời Chúa. Nó quả quyết mình biết Chúa hơn người nữ và thuyết phục bà bớt tin tưởng để phán đoán rằng, biết đâu Thiên Chúa cấm vì sợ con người sẽ bằng mình. Các ngươi sẽ như Êlohim (giống Êlohim) là những kẻ biết thiện ác. Biết không nguyên bằng trí thức nhưng còn là kinh nghiệm; biết là làm chủ được sức mạnh thần bí. Rắn gợi cho con người nghĩ là họ có thể mở rộng cuộc sống vượt qua những giới hạn mà Chúa đã đặt, để họ có quyền định đoạt tốt xấu cho mình nghĩa là định mệnh cuộc đời mình, và như thế là đồng nghĩa với sự từ chối lệ thuộc Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, tức là kiêu ngạo muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa.

Người đàn bà đã nhìn : quả là cây ăn phải ngon. Mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy, để được tinh khôn (3,6). Rắn không nói gì thêm. Cần đi vào yên lặng để những lời cám dỗ trên được lắng sâu vào trí óc và cõi lòng. Nó tác động từ giác quan, đi vào trí khôn tạo lòng muốn. Người nữ ngắm nghía trái cây thấy ngon (giác quan - cảm giác), mát mắt (thẩm mỹ) và đáng thèm khát để được Khôn Ngoan, thông minh như Chúa, nên giống Chúa.

Và bà đã hái lấy quả mà ăn, và bà cũng trao cho chồng ở bên bà đưa cho chồng. 
(3,6). Người bị dụ dỗ trở hành kẻ dụ dỗ. Nàng chia cho chồng với ước mơ hão huyền là chồng được thông minh như Thiên Chúa.

Tại sao trong tình trạng sáng suốt và quân bình ban đầu, con người có thể bị sa ngã? Xét cho cùng, dầu sao họ cũng chỉ là thụ tạo bất toàn, với thân phận mỏng manh. Điều quan trọng đó là họ luôn có tự do để phán đoán và quyết định.

Và ông đã ăn
 (3,6). Lời Thánh Kinh thật vắn gọn diễn tả sự yếu đuối, nhu nhược của Ađam và ông đã sa ngã.

Mắt hai người mở ra (3,7). 
Đúng như lời rắn nói, bây giờ họ thấy một cái gì mới, nhưng cách khác hẳn họ tưởng: thay vì trở nên thần linh biết thiện ác, họ biết mình trần truồng. Tất nhiên, trước khi phạm tội, họ trần truồng nhưng coi đó là tự nhiên và không xấu hổ. Bây giờ sự vô tội đã mất, xấu hổ là dấu chỉ của ý thức tội lỗi họ có; tội đã gây nên trong thẳm sâu con người sự đổ vỡ: thế quân bình và hòa hợp giữa tinh thần và thể xác đã mất, con người không còn làm chủ được mình nữa, và vì thế cảm thấy xấu hổ trước mặt nhau.

Sau khi sa ngã, hai người lẫn trốn Thiên Chúa. Họ đi trốn chứng tỏ lương tâm hối hận vì đã không vâng lời. Tội phá vỡ sự hài hòa với chính mình. Để chạy tội, con người như đổ lỗi cho Chúa: người đàn bà mà Chúa đã đã đặt bên tôi, chính y thị đã hái nơi cây ấy cho tôi, nên tôi đã ăn ( 3,12). Người đàn ông đỗ lỗi cho Chúa : chung quy chỉ vì Chúa cho tôi người đàn bà ở với tôi.

Người nữ đổ tội cho rắn : Con rắn dụ dỗ tôi nên tôi đã ăn (3,13). Cả hai câu nói trên tỏ lộ mối rạn nứt giữa người với nhau. Sự liên đới trong tội bị phủ nhận, người ta đổ trách nhiệm cho nhau. Sự đồng phạm không liên kết con người trước mặt Chúa, nhưng làm họ ra lẻ loi. Tội bắt đầu gây chia rẽ và phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa người với nhau.

2. Ý nghĩa 
con rắn và trái cấm

Tại sao Kinh Thánh chọn loài “rắn” làm hiện thân cho Satan? Còn “trái cấm” có ý nghĩa hiện sinh gì trong cuộc sống không?

Con rắn

Trước tiên, hình ảnh “rắn” rất quen thuộc trong Cựu Ước. Cái tên “Satan” (Quỉ Vương) có sẵn trong các tôn giáo cổ xưa, nhưng Do Thái là tôn giáo đầu tiên cho rắn đội lốt Satan đến cám dỗ con người ăn trái cây “biết lành biết dữ”. Rắn cũng xuất hiện lần nữa khi Môisen và Aaron ném gậy xuống đất hòa thành rắn để Pharao cho dân Chúa đi tự do. Trong sa mạc, Môisen đúc rắn đồng treo lên cây cao, hễ ai bị rắn cắn nhìn vào đó sẽ được khỏi. Có thể hiểu “bị rắn cắn” theo nghĩa rộng như là một sự chùn chân, chán nản, không muốn tiếp tục cuộc hành trình qua sa mạc. Trong 40 năm lưu lạc trong sa mạc, dân Do Thái có lẽ đã tiếp xúc, đụng độ hoặc muốn đồng hóa với các bộ lạc thờ rắn sống trong vùng, và Môisen phải đúc rắn đồng riêng cho dân Do Thái để họ lên tinh thần mà tiếp tục cuộc hành trình về đất hứa. Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy được một số rắn đồng tại vùng mỏ đồng sa mạc Araba.

Ngoài Kinh Thánh ra cũng có nhiều chuyện thần thoại khác về rắn đã được lưu hành trước đó rất lâu. Chuyện thần thoại Gilgamesh ở xứ Sumeria, kể lại vua Utnaphistim và vợ ông ta đã tìm được một loài cây trường sinh, nhưng trước khi có dịp ăn quả trường sinh thì có một con rắn đã đánh cắp cây quý khỏi tay nhà vua, và từ đó không ai có thể sống đời đời nữa. Điển tích về rắn cướp lấy cơ hội trường sinh bất tử ảnh hưởng ít nhiều vào sự tích Satan hóa thân con rắn đến cám dỗ Evà, từ đó loài người mất đi cơ hội sống đời đời. Phải đợi đến thời Kitô giáo, “trái cấm” được thay thế bằng “Mình và Máu” của Chiên Thiên Chúa. Cũng như thế, Evà , người nữ đem trái cấm đến cho Ađam ăn, sẽ được thay thế bằng Đức Trinh Nữ Maria, người “chưa hề biết đến một người nam”. Ngoài ra, cuộc chiến giữa rắn tiền sử và thần Marduk nói lên nhu cầu hy sinh đổ máu của “thần thánh” để loài người được sống. Khái niệm thần thánh trở thành của lễ hiến tế để đem lại sự sống cho nhân loại có lẽ không xa lạ cho lắm đối với hậu cảnh văn hóa và tôn giáo của Cựu Ước và Tân Ước. Tư tưởng “máu đào tử đạo là hạt giống đức tin” có lẽ cũng mang ảnh hưởng phần nào của khái niệm trên đây.

Với quan niệm của người Á Đông xem rồng như là vật linh thiêng, thì dân tộc Trung Đông cũng tôn thờ rắn vậy. Rắn đại diện cho sự khôn ngoan, nhanh nhẹn và cả sự nguy hiểm, trả thù độc địa nếu cần. Dân tộc xứ Syria xem rắn như một thần phù trợ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại các đền thờ, các tạc hình “đầu rắn” vì họ tin thần rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lăng và bảo vệ dân chúng khỏi hiểm nguy bệnh tật. Khi thấy rắn lột da nhưng vẫn sống, người ta tin rắn có bí quyết trường sinh bất tử. Người Hy Lạp có thần Asklepios chữa bệnh mang dấu hiệu hình rắn mà ngày nay vẫn thấy tại các tiệm thuốc tây, văn phòng bác sĩ, hoặc nhà thương. Người Việt tin là rắn có trí nhớ và khả năng trả thù như trong chuyện Nguyễn Trãi giết cả một tổ rắn hổ mang và sau này bị rắn trở lại báo oán (tru di tam tộc).

Trái cấm

Vì sự tinh ranh của rắn, Satan đội lốt rắn để đem “trái cấm” đến dụ dỗ con người. Nhưng “trái cấm” có ý nghĩa gì không? Cũng như các ngụ ngôn Đức Giêsu dùng để giảng dạy trong Tân Ước, ngôn ngữ huyền thoại của sách Sáng Thế không phải là loại ngôn ngữ cứng rắn của siêu hình học. Muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của nó chúng ta cần phải đặt mình vào trong bối cảnh và ngữ cảnh của câu chuyện.

Vì thế, ở đây chúng ta hãy giải thích “trái cấm” qua lăng kính hiện sinh. Nếu xét theo kinh nghiệm trưởng thành của mỗi người, chúng ta có thể diễn đạt ý nghĩa của “trái cấm” qua ba giai đoạn sau đây.

Trước tiên, “vườn địa đàng” đại diện cho tuổi còn bé thơ, sống trong vô tư và trần truồng, mọi miếng ăn thức uống đều lệ thuộc vào cha mẹ, chỉ biết chơi đùa với thú vật, mỗi buổi chiều tà cha mẹ dẫn đi chơi hay ngồi nghỉ dưới bóng mát của hàng cây.

Giai đoạn “Ađam và Evà bị cám dỗ” nói lên những khủng hoảng thường gặp phải trong tuổi dậy thì. Đây là cái tuổi thích mạo hiểm và tự do, hay chống đối lại bề trên nhưng không màng đến hậu quả xấu. Ở giai đoạn này, tính tình thì rất nông nổi và bồng bột, dễ bị quyến rũ và sa ngã về tính dục và tình cảm.

Cuối cùng, giai đoạn “sống ngoài vườn địa đàng” nói lên sự trưởng thành, đầy đủ nghị lực và trách nhiệm để tự lập. Đàn ông tự kiếm sống với mồ hôi nước mắt của chính mình, đàn bà mang nặng đẻ đau, nhưng cả hai sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả để tạo dựng mái ấm gia đình riêng cho họ. Vườn địa đàng có thiên thần “cầm gươm đứng gác cửa” ngăn chận không cho con người trốn chạy trách nhiệm hay trở về với tổ ấm của cha mẹ, nhưng phải đương đầu với thực tại đau khổ và biết giá trị của sự chọn lựa. Nói cách khác, “trái cấm” đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong đời người. Khi lớn lên không tránh khỏi những sai lầm hay sa ngã, nhưng chỉ qua đó, con người mới làm chủ vận mệnh và chịu trách nhiệm cho sự chọn lựa của mình. Đó có thể là lý do tại sao “trái cấm” được gọi là trái của “cây biết lành biết dữ”. (x. Nội san chia sẽ, số 52, tháng 12, năm 2006, trang 79-82).

3. Chiến thắng cám dỗ theo gương Chúa Giêsu

Trong hành trình về đất Hứa, dân Israel đi trong sa mạc một thời gian dài và đã gặp nhiều cám dỗ: cám dỗ trở lại Ai cập để có bánh ăn; cám dỗ thờ tượng con bê vàng; cám dỗ thử thách Thiên Chúa.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã quả quyết : “Trên đời này không ai mà không bị cám dỗ”. Con người “già cái lợi cái răng, nhưng ba cái lăng nhăng không già”.

Như vậy cám dỗ là một cái gì hết sức mạnh mẽ, hết sức lôi cuốn, và rất khó chống cự.

Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cám dỗ của Satan bằng Lời Chúa và đời sống chay tịnh cầu nguyện, luôn tín thác vào Chúa Cha.

Lời Chúa là sức mạnh tâm linh, là lẽ sống thần linh và là lời ban sự sống. Đọc và suy gẫm Thánh Kinh sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng tội lỗi. Gương của Chúa Giêsu được Tin Mừng Thánh Luca kể rõ: mỗi lần ma quỉ đưa ra một chước cám dỗ thì Chúa Giêsu lại lấy một lời của Kinh Thánh mà đẩy lui chước cám dỗ ấy:

-Có lời chép rằng: người ta không sống bằng cơm bánh mà còn bằng lời của Thiên Chúa nữa.
(Lc 4,5)
-Có lời chép rằng:ngươi phải thờ lạy Chuá là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người.(Lc 4,8)
-Có lời chép rằng: ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi.(Lc 4, 11).

Dường như suốt cả cuộc đời, Chúa Giêsu luôn bị Satan tấn công : “ Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỹ bỏ đi, chờ đợi thời cơ ”. (Lc 4,13). Nhất là vào những giây phút cuối đời của Người. Trong vườn Giêtsêmani, khi đối diện với khổ nạn và cái chết đang cận kề, Chúa Giêsu không khỏi sợ hãi đến nổi mồ hôi đổ ra như máu. Người đã thân thưa cùng Chúa Cha đến hai lần: “ Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha ”. (Mt 26, 39b) ; “ Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha ”. (Mt 26, 42b).

Chủ yếu cám dỗ của ma quỷ là làm sao tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa Cha. Mỗi người ở mỗi hoàn cảnh đều có thể bị nó cám dỗ để chia cắt tình yêu của mình với Chúa. Dựa vào sức mình, vào khả năng của mình… mà không biết cậy dựa vào tình yêu Chúa thì chúng ta đang bị rơi vào tròng của ma quỷ.

Mùa Chay là thời gian đặc biệt để xét mình, để sám hối canh tân bản thân, nhờ đó mà sống đẹp lòng Chúa mỗi ngày.

Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có kể lại một câu chuyện về mẹ của ngài trong một diễn văn nhân lễ mở tay mừng tân chức như sau: "Cách đây khá lâu có hai linh mục đến thăm mẹ già của tôi tại Úc châu và hỏi bà: "Bà cố có muốn Đức Cha Thuận làm hồng y không?" Bà cụ (nay đã 98 tuổi) trả lời: "Không! Tôi dâng con tôi cho Chúa là để tế lễ Người, như thế là đủ! Tôi chẳng cần con tôi làm hồng y đâu" - "Nhưng lên hồng y sẽ làm vinh danh Chúa hơn!" - "Thế hai cha không làm vinh danh Chúa à?". Mới đây, sau khi Đức Cha Thuận được tấn phong hồng y thực thụ, một trong hai linh mục hôm nọ cùng một vị khác lại gặp bà cụ và hỏi: "Nay Đức Cha Thuận đã lên hồng y rồi, bà cố có vui không?" - "Dạ vui chớ!" - "Sao hôm nọ, bà cố đã trả lời là không muốn con bà làm hồng y!" - "Nay tôi vui vì đó là ơn Chúa cho. Có chức quyền to ở trần đời dễ làm bậy lắm! Còn chức quyền to trong Giáo Hội thì phải lo mà chu toàn theo ý Chúa" - "Vậy bây giờ Đức Cha đã lên hồng y, bà cố cầu nguyện gì cho đức Hồng y?" - "Tôi chỉ cầu nguyện cho con tôi sống đẹp lòng Chúa!" - "Thế thôi à?" - "Vâng, sống đẹp lòng Chúa, đó là điều duy nhất tôi luôn cầu nguyện cho con tôi!".

🔴CÁC LINH MỤC ĐÃ LÊN TIẾNG VỀ NHÀ SƯ THÍCH MINH TUỆ 30 05 2024

Bất ngờ thêm 1 Linh Mục VN lên tiếng Thầy Thích Minh Tuệ Kính thưa Cộng đoàn, giữa một cuộc sống mà tiền bạc danh vọng chen vào bất cứ đâu, ...

Sự Sống Ngày Nay